Thượng Sỹ Phạm Xuân Thanh

Tâm Triều/Quốc Gia Hành Chánh

Back-Trở về

Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 2009 người Việt tỵ nạn ra thăm Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Little Sàigòn, Thủ Đô Tỵ Nạn, thật vui khi thấy một số bảng đá ghi khắc tại đây có thêm danh sách mới một số chiến sĩ VNCH đã vị quốc vong thân, trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đặc biệt các chiến sĩ đã hy sinh chính trong ngày Quốc Hận. Trong số các bảng đá ghi khắc người ta chú ý đến dòng chữ ghi sau đây:

Vô Cùng Thương Tiếc
Thượng sỹ Phạm Xuân Thanh
Chiến đấu và tuẫn tiết tháng 4-1975 tại Vũng Tàu.

Đầu đuôi câu chuyện Thượng sỹ Thanh tự sát trong ngày 30-4-1975 đã được báo Người Việt tường thuật lại trong số báo 8859 ra ngày Thứ Tư 10 tháng 3 năm 2010 như sau: “Vào những ngày cuối cuộc chiến, anh em trong Truyền Tin thường nhắc lại sự hy sinh anh dũng của hai Hạ sĩ quan truyền tin là Thượng sỹ Phạm Xuân Thanh và Thượng sỹ Bùi Quang Bộ. Thượng sỹ Thanh là cán bộ huấn luyện cơ hữu của trường Truyền Tin Vũng Tàu. Thượng sỹ Thanh tình nguyện ở lại chiến đấu để bảo vệ cho các đơn vị Truyền Tin trong trường rút đi khi cộng quân bao vây vào những ngày cuối cuộc chiến. Cuộc chiến đấu bảo vệ chấm dứt tốt đẹp, anh chạy về tới gia đình trong khu gia binh, bị cộng quân rượt bắt, không chịu hàng phục, trước mặt vợ con, Thượng sỹ Thanh đã hô to khẩu hiệu “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”. Sau đó dùng vũ khí cá nhân tự kết liểu đời mình (Trích nguyên văn Báo Người Việt).

Sau đây là những chi tiết rõ ràng hơn, do chính em ruột của Thượng sỹ Thanh là Phạm Xuân Huy kể lại hiện anh đang cư ngụ tại Little Sàigòn. Anh Phạm Xuân Huy là Trưởng Ty Hành Chánh tỉnh Hậu Nghĩa tới ngày 30-4-1975.

Hình ảnh cuối cùng tại mặt trận Vũng Tàu đã hạ màn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 với một kết thúc bi thãm, nhưng thật đẹp và oai hùng. Thượng sỹ Bùi Quang Bộ và Thượng sỹ Phạm Xuân Thanh, sau khi bắn hạ nhiều cộng quân, đã rút chạy về tới trại gia binh, tình thế thật tuyệt vọng vì địch quân đông đảo đang rượt đuổi sau lưng. Hai chiến sĩ quốc gia sau cùng đã giải quyết định mệnh mình theo hai cách riêng. Thượng sỹ Bộ kết liểu sinh mệnh người vợ yêu quý và 7 đứa con thơ của anh bằng súng, rồi viên đạn cuối cùng dành cho chính anh. Cả thảy 9 mạng người đã nằm xuống đền nợ nước, khi giặc tới nước mất nhà tan. Riêng Thượng sỹ Thanh làm dấu Thánh giá, cầu nguyện Chúa, rồi nói với các con:

- Thôi, Bố vĩnh biệt các con. Bố không sống với cộng sản được. Các con ở lại ráng sống cho xứng đáng là con của Bố Mẹ và Tổ quốc, Quê hương Việt Nam. Mẹ sẽ thay Bố lo cho các con. “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”.

Đó là lời nói sau cùng của anh Thanh vang lên, tiếp theo là tiếng súng nổ ròn rã và thân thể anh tuẫn tiết, rơi xuống thềm gạch.

Sau khi Thượng sỹ Thanh mất, các gia đình trong trại gia binh vô cùng xúc động. Họ xúm nhau lại giúp đỡ đám con thơ của một chiến sĩ vừa nằm xuống. Anh Thanh có 7 đứa con. 3 đứa lớn đã đi lính đóng ở xa Vũng Tàu. 4 đứa nhỏ ở với Bố Mẹ gồm 2 trai và 2 gái, còn đi học. Bà con trong trại có sáng kiến lấy vội những mảnh ván mỏng từ thùng sữa, đóng tạm thành chiếc quan tài tẩm liệm và chôn Thượng sỹ Thanh ngay trong trại gia binh. Sau nầy, nhà cầm quyền cộng sản ra lệnh phải di chuyển nấm mộ tử sĩ đi nơi khác. Em ruột Thượng sỹ Thanh tại Mỹ đã gửi tiền về cho chị Thanh bốc mộ anh để vào hủ cùng đoàn tụ chung họ Phạm gửi trong một Thánh đường vùng Ông Tạ, Sàigòn.

Phạm Xuân Thanh sinh năm 1931 tại Hà Nội trong một gia đình 5 trai và 5 gái, anh là thứ 6. Thân phụ anh là ông Phạm Xuân Cầu, Tỉnh Trưởng tỉnh Sơn Tây thời Quốc Trưởng Bảo Đại, Quốc Gia Việt Nam đầu thập niên 50.

Anh Thanh nhập ngũ theo lệnh động viên từ năm 1953 tại Hà Nội và đã gia nhập binh chủng Truyền Tin vào trại Phà Đen ngay tại Hà Thành. Sau đó trại Truyền Tin Phà Đen theo Quân đội Quốc Gia Việt Nam di cư vào Sàigòn sau Hiệp định Genève 1954, chia đôi đất nước Việt Nam.

Phạm Xuân Thanh thuở đôi mươi rất thích âm nhạc ảnh hưởng bởi tên gọi hay không, hoặc truyền thống anh họ Mẹ là Nhạc sỹ Hoàng Trọng. Thanh đã ghi tên học lớp Hạ Uy Cầm do Nhạc sỹ Lâm Tuyền tại Hà Nội và Nhạc sỹ William Chấn. Từ lớp nhạc guitar, đã nẩy nở mối tình đầu giữa anh và bạn cùng học là Diễm Hồng. Thanh thường cùng Hồng trèo lên nóc thượng tầng căn nhà cổ ở phố Hàng Bông Thợ Ruộm để cùng hòa đàn những khúc tình ca tiếng tơ đồng, tình vương ý nhạc. Tiếc thay vì hai gia đình không đồng thuận nên Hồng và Thanh mãi mãi sẽ khóc theo tiếng tơ, bài ca dang dở. Năm 1952, Thanh đành vâng lệnh Cha Mẹ kết hôn với cô Trịnh Thị Nghiêm, trưởng nữ một thương gia có chân trong nhà máy xi măng Hải Phòng. Từ bến cảng Hải Phòng, khi hoàng hôn xuống Thanh thường họa lại khúc đàn năm xưa để tưởng nhớ lại cố nhân, từ thuở tình đầu lưu luyến ấy.

Suốt bao nhiêu năm đóng tại Vũng Tàu, Thượng sỹ Phạm-Xuân-Thanh vẫn thường một tay súng tay đàn. Thanh yêu nhạc và yêu biển. Thanh thường ra biển để nghe sóng hát tưởng nhớ lại tiếng đàn hát của người yêu năm xưa Hà Thành, những ngày bến cảng Hải Phòng nhớ về Hà Nội.

Vậy mà đâu có ngờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, biển Vũng Tàu truyền tin dữ với sóng đỏ ngập tràn tới và Phạm Xuân Thanh đã buông đàn, bỏ máy truyền tin, để cầm súng làm người linh chiến. Anh đã chiến đấu để bảo vệ an toàn cho đồng đội và anh đã hy sinh. Thôi thì cả đời anh đã ở bên biển và yêu biển. Vậy thì bây giờ Biển đã khâm liệm anh để hồn anh mãi mãi vui cùng với biển hát, lời ca muôn đời ca ngợi tình yêu, tình người dành cho nhau, tình yêu, tình đồng đội, tình yêu quê hương với Tổ quốc và mãi mãi Vũng Tàu sẽ mang tên anh, như một thanh âm mãi mãi còn xuân, vì với tuổi anh 44 đã mệnh chung, chưa thể gọi là già. Hỡi anh Xuân Thanh và Thanh Xuân!

Quốc Hận Tháng Tư 2010
Tâm Triều/QGHC